Đối ngoại
Hội thảo Phần Lan...

NHẠC CỔ TRUYỀN DÂN TỘC – NHỮNG SUY NGHĨ TRONG TÔI

(Bài viết nhân dịp hội thảo Đối thoại âm nhạc truyền thống Phần Lan-Việt Nam

tổ chức tại Trường CĐ Nghệ thuật Hà Nội)

Nguyễn Tuyết Anh

Phó trưởng phòng Thanh tra, KT và KĐCL

          “Đối thoại âm nhạc truyền thống Phần Lan - Việt Nam” là tên của cuộc hội thảo chuyên đề được tổ chức tại trường CĐ Nghệ thuật Hà Nội vào sáng 10/4 vừa qua. Đây là một sự kiện nằm trong các hoạt động triển khai dự án hợp tác Văn hóa do Bộ Ngoại giao Phần Lan tài trợ có tên gọi “Truyền thống cho giới trẻ: đối thoại về âm nhạc dân tộc Phần Lan - Việt Nam”, trong đó trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội là một đối tác tham gia thực hiện. Buổi hội thảo đã diễn ra tốt đẹp và thu được những kết quả khả quan với nhiều gợi mở đầy hứa hẹn, nhiều ý kiến đóng góp quý giá từ các nhà quản lý, các chuyên gia âm nhạc dân tộc, các giảng viên và nghệ sĩ uy tín trong nước. Điều quan trọng hơn cả đó là mọi suy tư, trăn trở, mọi miền cảm xúc của những người tham dự hội thảo đã được chắp nối thành một định hướng dẫn đường, tạo nên một tâm thế mới cho những người yêu âm nhạc dân tộc, mở ra một sức sống mới cho chính họ, cho những cây đàn dân tộc của họ và cùng kỳ vọng rằng những giai điệu, lời ca của âm nhạc cổ truyền sẽ ngân nga mãi ở những thế hệ sau.

          Đôi nét về hội thảo cũng là dẫn luận ngắn gọn cho những ý tứ sau đây của bài viết, diễn giải cho chủ đề mà người viết đặt tên “Nhạc cổ truyền dân tộc – những suy nghĩ trong tôi”. Tuy nhiên, là “kẻ ngoại đạo” với nghĩa không những không hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc mà còn đúng nghĩa là người không có chuyên môn về âm nhạc. Người viết vốn chỉ là “người trót yêu nhạc dân tộc” mà thôi. Từ một nhiệm vụ nhỏ được nhà trường phân công trong việc kết nối thông tin giữa các đơn vị ở giai đoạn khởi đầu thực hiện dự án, tôi nhủ thầm rằng mình thích công việc này vì mình yêu và mê nhạc dân tộc. Phải chăng nghệ thuật dân gian dân tộc chính là sản phẩm văn hóa nhiều sắc màu nhất, thu hút sự mê đắm và đôi lúc có thể tạo dựng một niềm tin cuộc sống, hoặc chua xót đón nhận sự chê bai, xa lánh từ phía cộng đồng. Âm nhạc dân tộc giống như một thôn nữ đẹp, nhưng không phải lúc nào và không phải ai cũng sủng ái bởi các yếu tố như nền tảng giáo dục, trào lưu xã hội, văn hóa và nhận thức vv... đã vô tình đẩy cô thôn nữ đẹp ấy chìm vào quên lãng. Phải chăng hiện nay nhạc cổ truyền Việt Nam chính là một điển hình về thăng trầm của một vẻ đẹp dân dã ấy.

          Đối với nhạc cổ truyền dân tộc, tôi nuôi dưỡng một tình yêu kỳ lạ của một người không may mắn được theo học về âm nhạc, hơn 30 năm trôi qua, tình yêu đó vẫn nguyên vẹn và tràn đầy cảm xúc như lần đầu nghe lời ru của mẹ, tiếng ngâm thơ của cha. Khi bắt đầu biết ngân nga đôi ba câu Kiều, mấy bài ca đồng dao và những lời hát ru mà không rõ cha mẹ ngâm những điệu nhạc như thế nào, mà rồi thuộc lòng, đọc vanh vách và đôi khi bật lên vài điệu nhạc giống cha mẹ vẫn làm và được mọi người khen hay: “À á à à ơi, con cò mày đi ăn đêm, đậu phải ớ ơ cành mềm lộn cổ xuống ao, ông ơi ông vớt tôi nao, tôi có a lòng à nào, ông hãy xào măng, à á à à ời, à á à à ơi...”. Rất nhiều bài ca dao, bài thơ về cách mạng, ca ngợi quê hương được cha mẹ ngâm ru à ơi cho tôi giấc ngủ say nồng, căng tròn một tình yêu với vẻ đẹp của chính những lời hát ru đó. Sau này khi tôi học cấp 2, rồi cấp 3, lứa tuổi biết tiếp nạp nhiều kiến thức xã hội và nhu cầu về giải mã những cảm xúc của bản thân, từ ngọn nguồn cảm xúc của một thời thơ ấu qua lời ru hằng đêm của cha mẹ và những bài học làm người của thầy cô đã dần hình thành trong tôi một tình yêu với nhạc dân tộc. Lúc này, không chỉ là những lời ru ban sơ nữa, tôi đã biết và nghe nhiều hơn các thể loại âm nhạc dân tộc khác như: hát dân ca như câu hò, điệu lý; nhạc lễ như hát chầu văn, dòng thính phòng cổ truyền như ca trù, ngâm thơ và nghệ thuật trình diễn như hát xẩm, ca tuồng.... Tuy nhiên, trong đó hát chèo và cải lương vẫn là dòng âm nhạc truyền thống đến bây giờ tôi vẫn yêu thích nhất.

Qua tìm hiểu, tôi được biết hát chèo là của người Việt, bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, đặc biệt là những trò nhại và phổ biến ở miền Bắc. Xem và nghe chèo từ nhỏ, được cha mẹ cho đi xem thường xuyên, những năm tháng các đoàn chèo Hà Nội, nhà hát chèo Trung ương có những vở diễn được công diễn hàng đêm, được khán giả yêu cầu diễn đi diễn lại, các vở chèo luôn đem lại cho tôi những cảm xúc rất đặc biệt. Ngôn ngữ của sân khấu chèo thật sắc sảo, có lúc bỡn cợt, liều lĩnh, nhiều khi ai oán, đả kích sâu cay nhưng chính là những bài học lịch sử xã hội sống động, tác động nhiều đến tâm hồn và nuôi dưỡng những cảm xúc đẹp cho người xem. Tôi mê những nhân vật phụ nữ điển hình trong Chèo: một Thị Màu lẳng lơ, phá phách, khao khát hạnh phúc đến tột độ (vai nữ lệch), một Thị Kính đức hạnh, nhẫn nhịn và hy sinh (vai nữ chính), một Xúy Vân “phá cũi sổ lồng” (vai đào pha) ... mỗi người một tính cách, một số phận, khi vào vai diễn, mỗi nhân vật một giọng điệu nói và hát, diễn xuất và biểu cảm. Trong sân khấu Chèo, các nghệ sĩ vừa phải diễn vừa phải hát, giọng nữ chèo lanh lảnh, giọng nam chèo chơi vơi. Nhạc cụ Chèo là trống, nhị, tam, nguyệt, đó cũng là những nhạc cụ truyền thống của Việt Nam, có lẽ vậy khi tấu lên giai điệu chèo, người nghe có cảm giác đang sống ở một miền quê xưa, khoan thai bước đi trong những làn điệu Luyện năm cung, Đào liễu... để rồi hoài vọng và trầm tĩnh nghĩ suy, tiếng chân đập gõ nhịp theo từng nhịp phách thể hiện rõ tính Chèo.

 Nếu Chèo phổ biến ở miền Bắc, thì Cải lương là tình yêu của người dân Nam bộ. Tự bao giờ, cải lương hay còn được gọi là đờn ca tài tử, ca vọng cổ kim lang đã thấm đẫm tâm hồn tôi như mạch huyết lẽ sống đời thường, chẳng rõ lý do nào cụ thể, chỉ biết ngày nào không được nghe vài ba câu vọng cổ, vài ba điệu lý câu hò Nam bộ tôi thấy như thiếu một cái gì đó về niềm tin và tình yêu - tình yêu của đôi lứa và niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp, tựa như mấy câu: “hò ơ, đưa tay đem ngắt ngọn ngò, anh thương em đứt ruột, hò ơ, anh thương em đứt ruột mà giả đò ngó lơ...”. Tôi mê cải lương ở lối diễn của các nghệ sĩ miền Nam, từ những vở diễn tả cảnh xã hội đời thường đến những vở tuồng cổ, các nghệ sĩ đều nhập vai một cách xuất sắc. Có cảm giác như họ sinh ra là để diễn và hát cải lương, chỉ cần tấm màn nhung và ánh đèn, lập tức họ biến sân khấu thành thánh đường thiêng liêng. Từ câu chuyện xã hội như Đời cô Lựu, Lan và Điệp, những tích tuồng cổ như Tiếng trống Mê linh, Lưu Bình Dương Lễ đã trở thành những vở diễn kinh điển gắn với tên tuổi của nhiều nghệ sĩ như NSND Lệ Thủy, NSUT Minh Vương, NS Bạch Tuyết, Diệp Lang ... mà chỉ nhắc đến nghệ danh thì kể cả những người không mê cải lương cũng biết. Nhạc cụ truyền thống của Việt Nam trong dàn nhạc cải lương như đàn kìm (nguyệt), đàn cò (nhị), đàn thập lục (tranh), đàn sến, sáo chắc chắn không thể thiếu trong đêm diễn để giúp cho người nghệ sĩ thăng hoa và phô diễn tài năng của mình. Cải lương buồn và lấy nhiều nước mắt của người xem nhưng nỗi buồn của cải lương đẹp, nỗi buồn sâu sắc khi được nghệ sĩ lột tả qua lời ca vọng cổ, đã làm cho người xem thêm yêu những người phụ nữ Việt nhiều đức hy sinh, những chiến sĩ năm xưa anh hùng, kiên trung và bất khuất...

Có một nhận định chung của những người yêu nhạc dân tộc, đó là tất cả các thể loại âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, dù đó là nhạc khí, điệu hát, lời ca hay trình diễn sân khấu, nguồn gốc Việt Nam hay du nhập, đồng hóa sau này thì tựu chung dòng nhạc này vẫn mang một thông điệp bộc lộ tâm tư tình cảm, khát vọng của những người dân lao động về một cuộc sống tươi đẹp hơn, biểu cảm tình yêu đôi lứa mong muốn tìm đến những bến bờ hạnh phúc. Thông điệp còn chính là bài học lịch sử, giá trị giáo dục con cháu về truyền thống của cha ông, của dân tộc. Những điệu nhạc từ đàn tranh hay nguyệt, nhị hay sáo .v.v, dù làn điệu chèo hay cải lương, ví dặm hay dân ca quan họ .v.v đều luyến láy quấn quýt vào nhau từng nốt lên bổng xuống trầm, chính những “nốt trầm bổng” trữ tình của nhạc dân tộc đó lại chạm tới nơi sâu xa của niềm phấn khởi, lạc quan, sảng khoái tinh thần và xua tan những mệt mỏi vốn có của cuộc sống thường ngày. Sự kết hợp hoàn hảo giữa âm nhạc và sân khấu trên mảnh đất nghệ thuật truyền thống Việt Nam tạo nên một bức tranh đẹp và quý rất cần được phô diễn tự hào, khích lệ để từ đó tiếp tục được bảo tồn, gìn giữ và phát huy tài sản văn hóa vô giá của một dân tộc mang trong mình nhiều trang vàng lịch sử.

 Quay trở lại với Hội thảo Đối thoại âm nhạc truyền thống Phần Lan - Việt Nam tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội mà tiêu đề, mục đích chính là “truyền bá âm nhạc truyền thống tới giới tr���”, tôi xin được bày tỏ quan điểm của cá nhân với tư cách một khán giả trẻ yêu âm nhạc dân tộc, đó là quan điểm tán thành mục đích của dự án đã xuất phát từ tâm huyết của những nghệ sỹ là  nhà lãnh đạo quản lý, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc - các giảng viên và nghệ sĩ của hai quốc gia có nền văn hóa khác nhau. Nhân bài viết này, tôi cũng xin phép đưa ra 03 ý kiến của một người ngoại đạo, những suy nghĩ của“người trót yêu nhạc dân tộc” đóng góp vào diễn đàn chung, với những suy tư và đề xuất mạo muội trước các nhà chuyên môn Âm nhạc và các bạn trẻ khác cùng một tâm huyết muốn gìn giữ và phát huy những tinh hoa nghệ thuật dân tộc. Các ý kiến cụ thể như sau:

1. Hiện nay, hệ thống các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về lý luận âm nhạc, cụ thể là âm nhạc truyền thống của dân tộc Việt Nam còn thiếu sự nhất quán trong việc sử dụng các thuật ngữ, khái niệm thống nhất về thuật ngữ khiến khán giả có nhu cầu tìm hiểu khó xác định và nắm bắt như: âm nhạc cổ truyền, âm nhạc dân tộc, sân khấu nghệ thuật truyền thống v.v. Các nhà Âm nhạc học có nên nghiên cứu và cho xuất bản một cuốn cẩm nang nhỏ về nghệ thuật truyền thống của dân tộc, trong đó hệ thống nội dung xuyên suốt là những khái niệm cơ bản nhất về từng nhạc cụ, thể loại âm nhạc, loại hình sân khấu, có hình ảnh minh họa sinh động, chú giải dễ hiểu nhằm hướng tới đa dạng đối tượng khán giả, từ trẻ đến già đều đọc và tìm hiểu được

2. Công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và giới thiệu các loại hình âm nhạc truyền thống cần được tổ chức khoa học, bài bản và nâng cấp hơn nữa. Ở đây tôi muốn nói đến một thiết chế văn hóa cụ thể như nhà bảo tàng – một khái niệm, một không gian chính thống thực hiện các chức năng nhiệm vụ về bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của một dân tộc. Chúng ta đã có bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – nơi lưu giữ và phát triển kho tàng lịch sử mỹ thuật và điêu khắc dân gian. Có bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chuyên nghiên cứu, sưu tầm và gìn giữ, khai thác những giá trị lịch sử - văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, trong đó có khu giới thiệu về những nhạc cụ truyền thống như tre, vỏ bầu khô ... và tư liệu sống động về các loại hình diễn xướng dân gian khá thú vị. Đối với Âm nhạc dân tộc, trên trang website của Viện Nghiên cứu âm nhạc trực thuộc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam hiện nay có mục “không gian nhạc Việt” được chia thành những tiểu mục nhỏ: phòng trưng bày, biểu diễn, du lịch ..., người xem có thể vào từng tiểu mục tìm hiểu được rất nhiều thông tin khá chi tiết về các loại nhạc cụ truyền thống của các dân tộc thông qua nhiều hình ảnh minh họa và văn bản mô tả khoa học. Viện đã xây dựng phòng trưng bày Nhạc cụ dân tộc, được biết ngay từ những ngày đầu khai trương và đón khách thăm quan, Viện âm nhạc đã đón tiếp trung bình 100 lượt khách trong nửa năm (cả khách trong nước và nước ngoài). Như vậy, mô hình phòng trưng bày chính là một không gian tuyệt vời cho mọi thế hệ, tầng lớp khán giả đến tìm hiểu, thẩm thấu và nghiên cứu các loại hình nghệ thuật của dân tộc. Tuy nhiên, quy mô và tầm cỡ chưa thực sự trở thành một Bảo tàng âm nhạc dân tộc Việt Nam, cần được nâng cấp hoặc thiết lập mới trên nền tảng của những phòng trưng bày như ở Viện âm nhạc. Bảo tàng sẽ là một đơn vị độc lập, tập hợp đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ, sẽ là nơi có vị trí vai trò vô cùng quan trọng trong việc sưu tầm, gìn giữ, công chiếu trực tiếp những giá trị nguyên gốc của tất cả các loại hình âm nhạc và sân khấu truyền thống của Việt Nam. Hy vọng ý tưởng của tôi sẽ tìm được tiếng nói chung với nhiều khán giả yêu âm nhạc dân tộc.

3. Gần đây, tôi để ý trên các kênh truyền hình lớn của Việt Nam, đặc biệt trong các chương trình đón giao thừa Tết cổ truyền dân tộc, hiếm thấy và nếu có thì thời lượng rất ít các chương trình về âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Tôi và những khán giả thế hệ trước đôi khi thấy “khát” thấy “thiếu” và đã có lúc thể hiện thái độ không hài lòng vì nhu cầu tinh thần không được đáp ứng. Cảm giác vào thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc cả dân tộc cùng chung một hướng, một nhịp đập trái tim và cùng chăm chú lắng nghe lời chúc tết của Chủ tịch nước thì lại càng muốn bên tai vang lên những làn điệu chèo lảnh lót, những câu vọng cổ mượt mà, những bản nhạc hòa tấu đậm chất trữ tình của các nhạc cụ bầu, nguyệt, tranh, sáo, hay những trích đoạn sân khấu ca ngợi vẻ đẹp quê hương, ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc. Có thể các khán giả trẻ lúc đầu sẽ “từ chối”, nhưng theo tôi cùng với thời gian và sự kiên trì của nhà sản xuất truyền hình, thói quen của khán giả trẻ sẽ thay đổi, từ thưởng thức sau đó dần thuộc và thích khi tự mình cất lên những giai điệu dân ca trong những ngày lễ Tết. Theo tôi nghĩ hiện nay những bạn trẻ làm truyền hình, nếu có một nhóm dù ít người thôi nhưng yêu hoặc quan tâm, thích nghe một loại hình nghệ thuật dân tộc có thể tương tác, trao đổi ý tưởng của những người trẻ, với trình độ và đầy đủ kỹ năng, cùng nhau xây dựng một kênh truyền hình riêng dành cho không gian âm nhạc dân tộc, chắc chắn sẽ có nhiều đất để khai thác, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Để khép lại bài viết của mình, tôi nhớ có lần tình cờ ngồi trò chuyện với một giảng viên khoa Nhạc nhẹ, nghe anh kể về cuộc đời làm nghệ thuật, quan điểm của anh về nhu cầu âm nhạc thịnh hành hiện nay trong giới trẻ, tôi có hỏi anh rằng có phải những người trẻ như em mê nhạc dân tộc là bị đa số giới trẻ và số đông người khác cho là lỗi thời hay không. Anh cười, mắt nhìn xa xa, dáng vẻ nghệ sĩ và điềm đạm nói: trước khi trả lời câu hỏi của em thì bản thân em hãy trả lời câu hỏi tại sao đến bây giờ dòng nhạc đó vẫn tồn tại và vẫn còn đối tượng khán giả riêng. Sau câu nói của anh, tôi thấy mình bớt tự ti rất nhiều vì trước đó tôi ít khi hòa nhập khi tham gia sinh hoạt văn hóa văn nghệ. Và tôi cũng ngộ ra một điều về giá trị của hạnh phúc khi mình dành tình yêu cho nhạc dân tộc như một dáng đợi dáng chờ giản dị mà tinh tế. Tôi chỉ băn khoăn về ý niệm “ dòng nhạc đó vẫn tồn tại”- sự tồn tại chứ không phải sự sống, mà âm nhạc dân tộc hiện nay đang rất cần một sự sống, đúng nghĩa là có linh hồn, hơi thở và sinh khí để dòng nhạc cổ truyền của dân tộc mãi mãi truyền cảm xúc và đam mê cho các thế hệ khán giả hôm nay và mai sau... Và cho riêng một“người chót yêu nhạc dân tộc”.

Số lượt đọc: 691 Ngày xuất bản: 19/10/2015 Quay trở lại